Bánh khô mè Đà Nẵng – Đậm đà hương vị tình quê

0
[ĐĐDL] Được Tổ chức kỷ lục Việt Nam công nhận là một trong ba món ăn đặc sản của Đà Nẵng, bánh khô mè còn có tên gọi khác là bánh “bảy lửa”, vì để có được chiếc bánh thành phẩm cuối cùng phải trải qua ngọn lửa bảy lần.

Nổi tiếng là tinh hoa ẩm thực đặc trưng của người Đà Nẵng, bánh khô mè là sự kết hợp tinh tế giữa gạo nếp thơm giã nhuyễn, mè rang và đường. Làng nghề làm bánh chỉ nằm cách trung tâm thành phố khoảng 6km về phía Nam, với thương hiệu tiêu biểu là cơ sở sản xuất bánh khô mè Bà Liễu Mẹ, 200/1 Ông Ích Đường, Quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng.

banh kho me2banh kho me2

Cơ sở sản xuất bánh khô mè Bà Liễu Mẹ, 200/1 Ông Ích Đường, Quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng

Người làng bánh khô mè Cẩm Lệ kể rằng, bánh khô mè và bánh nổ là anh em song sinh. Hai loại bánh có tên gọi chung là bánh khô khổ, hay còn gọi là bánh bảy lửa. Bánh bảy lửa do một người phụ nữ gia đình họ Huỳnh ở làng Thị An, xã Hòa Lân, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Đà xưa kia, nay là làng Thị An, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, chế tác mà thành.

Thưở xưa, khi đưa tiễn chồng, con lên kinh ứng thí, người phụ nữ nơi làng quê nghèo phải buộc bụng, chắt chiu từng miếng cơm manh áo, sáng tạo ra một món ăn thật ngon, đậm đà hương vị làng quê và có thể để dành được lâu.

Làng quê nghèo sẵn có gạo, đường, mè, nếp. Gạo vo sạch trắng như bông để thật ráo rồi cho vào cối giã thành bột mịn. Bột gạo tẩm nước vừa ướt cho vào nồi hấp chín. Trong khi chờ nồi bột chín, người làm bánh chẻ tre đan vỉ lót, đan khung đúc bánh với những ô vuông vức bé bằng hai đầu ngón tay. Làm vừa xong, bột vừa chín đổ vào khung gạt bằng. Tháo khung, những miếng bột vuông nhỏ được đặt trên bếp than hoa lần thứ nhất. Hơi lửa than hoa chỉ vừa nóng để nướng chầm chậm cho lát bánh khô hai mặt. Chiếc bánh trần đã ráo lại được đặt lên bếp than hoa lần thứ hai nướng giòn. Đến đây xem như xong công đoạn thứ nhất. Việc tiếp theo là nấu đường cho đến khi dùng đũa kéo thành sợi tơ không dứt. Mè dùng chân đạp tróc vỏ, rang giòn, vàng, thơm thật thơm. Lúc này, người phụ nữ bưng nồi đường đặt trên bếp than ấm, lấy từng lát bánh trần trắng ngần nhúng vào đường rồi nhanh tay lăn qua mâm mè để ngay bên cạnh.

Chiếc bánh giản dị với những nguyên liệu đơn sơ mà đậm đà hương vị bởi tấm lòng của người làm bánh. Nếu không có tình yêu chồng, thương con lớn lao, không chịu thương chịu khó làm sao có thể kiên nhẫn giã gạo kỳ đến thành bột, ngồi bên bếp củi, bếp than nóng nhiều lần để cho ra đời chiếc bánh bảy lửa?!

Bánh bảy lửa từ làng Thị An về làng Cẩm Lệ cũng bởi một người phụ nữ. Người con gái làng Cẩm Lệ lấy chồng làng Thị An, kế nghiệp bà tổ chồng làm bánh dâng ông bà, tổ tiên vào mỗi dịp tết đến xuân về. Năm 1967, người con gái làng Cẩm Lệ tên Phan Thị Nhẫn đem chồng, con từ bên kia sông tản cư về lại quê nhà, nay thuộc tổ 33, khu vực Cẩm Bắc, phường Hòa Thọ Đông, Q.Cẩm Lệ. Nhớ nghề xưa, ban đầu bà làm cho con cháu ăn, dần dà dân làng biết đến học nghề làm bánh. Do người dùng thích hương vị mè hơn nên nghề làm bánh khô mè có cơ hội phát triển.

Hương vị thơm ngon đặc trưng trong từng mẻ bánh là sự kết hợp giữa gạo nếp thơm giã nhuyễn, mè rang và đường. Một mẻ bánh ngon phải được bọc lớp mè rất đều, trải qua bảy lần nướng mới có được độ giòn và màu sắc bắt mắt, đánh thức được “ngũ quan”, với màu vàng của tơ đường mía, mùi hương đặc trưng của mè kết hợp với hương quế và gừng, vị ngọt thanh của đường, vị bùi của nếp và mè, khi ăn nghe tiếng bánh vỡ giòn “rào rạo”.

banh kho me1

Bánh khô mè là minh chứng cho sự chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con của người phụ nữ làng quê

Lưu truyền qua các đời, chiếc bánh của người vợ, người mẹ theo chân người đàn ông lên kinh ứng thí vẫn được những người hôm nay gìn giữ. Ăn một chiếc bánh giòn ngọt, nhớ biết bao tấm lòng của người làm bánh truyền thống làng quê.

Địa Điểm Du Lịch Tổng hợp / Theo Tuổi Trẻ

Bình luận